WISDOM 4


1th 

 Lý tưởng của cuộc sống đời tôi là tự cứu và giúp mọi người nếu có thể làm một chút gì đó cho bản thân, quê hương và nhân loại. “Dĩ cứu nhân vi sự nghiệp”, câu nầy lúc đại đức Thích Đức Niệm chùa Viện Phật học Quốc tế ở Vannuys California, khi thầy còn sống đã nói với tôi là con đường tôi đi là như thế. Hôm nay tính ra hơn 18 năm, kể từ lúc tôi bắt đầu viết sách ” Cân Bằng của thiên nhiên- Balance of Nature”.

 

Với mong mỗi có sự họp nhứt để giải tỏa một phần nào những vấn nạn tệ hại đang hiện hữu, tuy rằng những việc đó sẽ không bao giờ hết, vì ai cũng biết là cuộc sống phải chấp nhận sinh, lảo, bệnh, tử. Chỉ mong mõi có một tích cực nào đó làm cho nhẹ gánh phần nào. Cho lòng mọi người được nhẹ bớt, cho tôi, và mọi người nói riêng cũng như nói chung.  Xin nhắc lại rằng như trong sách tôi đã viết: “Tôi không thích làm một chính trị gia, mà tôi muốn trở thành một bác sĩ đông y bình thường mà thôi”.  Một TÂM ĐẠO, trở về theo quy củ là thờ cúng ông bà tổ tiên, cái nôi thiện lành cần phát huy trở lại cho mọi người bất cứ nơi đâu. Chúng ta có sự chia sẻ chân tình và chung một lý tưởng để chúng ta có một sự sống mới, bình an tâm hồn, các cơ sở thương mại chung quanh chúng ta được hoàn chỉnh hơn, hầu giúp con cháu chúng ta thấy được việc làm đó mà noi gương theo ông bà, cha, anh em của chúng. Như Ralph Waldo Emerson đã từng nói, “Mục đích của cuộc sống không phải là để được hạnh phúc. Nó là có ích, là danh dự, là từ bi, và để có nó làm cho một số sự khác biệt mà bạn đã sống và sống tốt”.

 

Tóm lại, việc cần thiết  phần nào giải tỏa quân bình chung cho cuộc sống hiện tại là có một môi trường TÂM THIỆN MỸ, NHÂN BẢN sống với tình người được chia sẻ có tâm từ bi, bác ái, hành động tốt đẹp. Với một trí tuệ ai cũng sẳn có, chúng ta sẽ xây dựng trên cơ sở thực tế đoàn kết lại, với từng cơ sở tùy theo phương tiện khắp mọi nơi. Tôi hy vọng là chúng ta sẽ thành công được việc đó. Với thời gian cùng lòng tâm huyết kiên trì, cố gắng, hy sinh, can đảm, chịu khó, chúng ta đạt được mãn nguyện vẹn toàn.

Các ông bà, thân quyến, các bạn hữu, nếu đồng thuận với tôi điều tâm nguyện nêu trên, xin vào mạng lưới nầy, nhấn vào nút đã làm sẳn, viết tên họ và email của mình vào phần ý kiến.  Chân thành cám ơn sự đồng hành và chia sẻ và quan tâm của tất cả mọi người.  Chúc tất cả mọi người có 1 phút tỉnh lặng, tâm định và An Lạc tâm hồn.

 

Thân ái,

 

Angeline Lan Đoàn, O.M.D

 

 

My life goal is to do something for myself, my country, and humanity.

Venerable Thich Duc Niem of the International Buddhist Institute in Van Nuys, California once said, “Help others is my career.  That is the direction to my goal” I remember seeing him over eighteen years ago, before I wrote my book, Balance of Nature.

 

We all hope that someday someone may find a solution to the world’s worst problem, but one has to accept the cycle of life: birth, aging, sickness, and death.

 

I wish to ease the burden of life, not only for me but for everyone else, too. I want to remind you what I wrote in my book: “I do not wish to be a politician, but I just want to be a normal Oriental medicine doctor.”

A kind heart is achieved by practicing compassion and to not forget your roots by worshiping your ancestors, wherever you are.

 

We share a common goal and look forward to a better life, calm soul, and to improve the quality of commercial businesses around us. Therefore, our children will follow in our footsteps.
In conclusion, the essential part of a balanced life is to live in the environment with a humanitarian and compassionate heart. As Ralph Waldo Emerson once said, “The purpose of life is not to be happy. It is to be useful, to be honorable, to be compassionate, and to have it make some difference that you have lived and lived well.”

With intelligence, we can establish our goals if we are united. I truly hope we will succeed. With time, patience, devotion, sacrifice, courage, and hard work, we gain integrity.

 

Dear friends, if you agree with me and my wishes mentioned above, please visit this website, click on the button, and leave your name, email address, and place a comment. Thank you for sharing your views and supporting me. I wish you all will have peace and kindness in your heart.

 

Sincerely,

Angeline Lan Doan, O.M.D.

 

我的人生目标是做一些我自己,我的国家,和人性化。

国际佛学院范奈斯的法师释德NIEM,一旦加州

说:“帮助别人是我的职业生涯。这是方向,我的目标:“我记得看到过他

十八年前,在我写我的书,自然的平衡。

我们都希望有一天有人会找到一个解决世界上最严重的问题,但

一个人必须接受生命的轮回:生,老,病,死。

我想,以减轻生活的负担,不仅为我,而是为其他人了。我要提醒

你是我写在我的书:“我不想成为一个政治家,但我只是想成为一个正常的

东方医学的医生。“

一种心脏被练的同情和被崇拜不要忘记你的根实现

你的祖先,无论你在哪里。

我们有着共同的目标,期待更好的生活,平静心灵,提高

我们周围商业企业的质量。因此,我们的孩子会跟着我们

总之,平衡生活的重要组成部分,是生活在一个环境

人道主义和同情心脏。正如爱默生曾经说过,“的目的

生活不快乐。这是有用的,成为一名光荣的,是值得同情的,并且有它

使一些区别,你已经住住好。

有了智慧,我们可以建立我们的目标,如果我们团结一致。我衷心希望,我们一定会成功。

随着时间的推移,忍耐,奉献,牺牲,勇气和努力,我们获得的完整性。

亲爱的朋友们,如果你同意我和我的愿望如上所述,请访问本网站,

按一下按钮,并留下您的姓名,电子邮件地址,然后将注释。谢谢

分享您的意见,并支持我。祝大家会有和平,善良的你

Angeline Lan Doan, O.M.D.

 

 

2yh

By Lê Sỹ Minh Tùng

wisdom1

Dựa theo quan niệm của những nhà tâm lý học Tây phương thì  Vô thức là  khái niệm chỉ các hiện tượng tâm lý, hành vi, cảm nghĩ tồn tại ở một cá nhân nào đó mà cá nhân đó không nhận thức được, không diễn tả được bằng ngôn ngữ cho mình và cho người khác. Đó là những hoạt động của hệ thống thần kinh nằm ở ngoài tầng ý thức của con người. Trong trạng thái vô thức, ý thức của con người không hoạt động hoặc hoạt động một cách mờ nhạt. Lúc đó, hệ thống não bộ thần kinh không có kiểm soát về tính nguyên nhân và hậu quả, không đặt vần đề có mâu thuẩn hay nghi vấn mà cốt chỉ nhằm thỏa mãn đòi hỏi của bản năng và hành động xảy ra đó không có ảnh hưởng đến không gian và thời gian. Ngược lại những hành vi có ý thức luôn nằm trong phạm vi trách nhiệm, biết trước hậu quả sẽ xảy ra nghĩa là tại sao ta phải làm điều này và nó sẽ có kết quả ra sao về sau.

Trong sách Strangers to Ourselves: Discovering the Adaptive Unconscious viết bởi giáo sư Timothy D. Wilson trang 24 có dẫn chứng rằng: Cứ mỗi giây, năm giác quan của con người là mắt thấy, mũi ngửi, tai nghe, miệng nếm và thân cảm xúc tiếp nhận khoảng 11 triệu ý tưởng từ bên ngoài đưa vào tâm. Trong 11 triệu ý tưởng đó thì mắt đã thâu nhận trên 10 triệu ý tưởng để chuyển vào hệ thống não bộ. Nhưng hệ thống thần kinh não bộ trong một giây chỉ có thể phân tích 40 ý tưởng. Cho nên câu hỏi các nhà khoa học đặt ra là 11,999, 960 ý tưởng không được bộ óc phân tích kia sẽ đi về đâu và sẽ có tác dụng hay ảnh hưởng đến tầng ý thức của con người như thế nào? Do đó nhà tâm lý học Sigmund Freud mới giới thiệu tảng băng tâm lý mà trong đó ông ta lý luận rằng phần tiền ý thức (trí nhớ, và lưu giữ kiến thức) và phần vô thức chiếm đa phần trong tâm tư của con người. Vô thức luôn hối thúc, lấn áp ý thức để con người có những tư tưởng, lời nói hay hành vi không thể kiểm soát được.

1)Ý thức kiểm duyệt và kiềm chế hành vi thúc đẩy bởi vô thức:

Thí dụ khi đi mua sắm ở Norstrom thì hàng hóa ở đó rất mắc tiền, rất đẹp. Lúcmắt thấy một món hàng quý giá thì vô thức luôn thôi thúc, xúi dục ta đánh cắp món hàng đó bỏ vào túi bất chấp có bị bắt, vào tù ra khám. Ngược lại, nếu có ý thức tức là quay về sống với lương tâm mà nhà Phật gọi là tánh giác thì chúng ta từ bỏ ngay ý định bất chánh đó.

Thí dụ đang làm việc, cảm thấy đói bụng khiến bạn muốn đi ra ngoài để mua thức ăn. Nhưng nhờ ý thức được trách nhiệm của mình và những hậu quả có thể xảy ra nếu mình bỏ ngang việc đi ăn khiến chúng ta ngồi lại và tiếp tục làm việc. Thế thì vô thức thôi thúc chúng ta thỏa mản dục vọng cho bản ngã (cái Ta), nhưng ý thức giúp ta nhận thức thế nào là đúng, thế nào là sai.

2)Ý thức có thể hóa giải thông qua vô thức:

Trong cuộc sống hằng ngày, cánh cửa tâm hồn được thông qua bởi ánh mắt, lời nói, cử chỉ hay những lời nói bộc phát tưởng như vô tình ở người đối thoại có thể giúp chúng ta hiểu phần nào những ẩn chứa trong tâm hồn của họ.

Thí dụ anh A thầm yêu chị B từ lâu, nhưng vì điều kiện gia đình hai bên không phù hợp cho nên anh A chỉ còn cách dấu trong tim tình yêu thầm lặng của mình. Một hôm, vì uống rượu nhiều, không kiểm soát được suy nghĩ nên anh A đã nói hết nỗi lòng của mình cho mọi người nghe. Ở đây, ý thức thể hiện việc anh A thầm yêu chị B bằng cách giấu, nhưng ý thức đó được biểu hiện qua lời nói vô thức khi uống nhiều rượu nghĩa là rượu vô thì lời ra, không kiềm chế được.

Một thí dụ khác là việc điều tra về một vụ giết người. Khi nhân viên cảnh sát thẩm vấn nghi can thì người này có nhiều biểu tượng rất lạ như đổ mồ hôi, sợ hãi, nói năng không đồng nhất…Những dấu hiệu trên đều là biểu tượng của vô thức. Tuy hành vi giết người được che đậy bởi ý thức nhưng đã bị biểu hiện bằng những hành động vô thức.

Tuy nhiên có rất nhiều nhà nghiên cứu đã cùng quan niệm rằng phần lớn tư duy của con người được bắt đầu từ vô thức bởi vì vô thức là nền tảng của ý thức. Trong đó, biết bao kính nghiệm, ký ức, tiềm năng đã được chất chứa trong cái kho vô thức. Họ lý luận rằng vô thức bao giờ cũng có trước vì đó là tiềm năng bẩm sinh mà ai cũng có, nhưng vấn đề là nó có được đánh thức hay không và đánh thức ở mức độ nào. Vì vậy, ý thức là cái có sau, được hình thành qua quá trình sống và phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh môi trường của cuộc sống. Sau cùng, các nhà phân tâm lý học (Psychoanalysis) mà trong đó Bác sĩ Freud là người dẫn đầu kết luận rằng “Vô thức và ý thức liên quan mật thiết với nhau, thiếu một trong hai đều dẫn tới tư duy què quặt. Nhưng quan trọng nhất là vô thức đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sáng tạo của con người, góp phần tạo nên các thiên tài, vĩ nhân, thần đồng trong mọi lãnh vực từ âm nhạc, hội họa, kiến trúc, khoa học cho đến tâm linh…

Một thí dụ về khoa học là nhà bác học Mendeleev (1834-1907) là người phát minh bảng phân loại tuần hoàn các chất hóa học sau một giấc ngủ. Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả của công trình nghiên cứu lâu dài của bộ óc. Với tất cả những kinh nghiệm nghiên cứu được cất giữ trong tầng vô thức và đúng một thời điểm nào đó thì từ trong tầng vô thức, những khám phá đó được bộc lộ mà chúng ta gọi là phát minh. Nói chung những thiên tài trong xã hội là những người có trực giác rất cao. Họ có khả năng trực nhận tri thức từ vô thức mà có những khám phá phi thường. Rất nhiều các phát minh sáng tạo khoa học, các luận thuyết khoa học được khám phá nhờ trực giác của những người có trực giác mạnh và nhạy bén.

Một thí dụ khác là khi mới bắt đầu tập đi xe đạp, ban đầu chúng ta phải dùng ý thức để điều khiển các động tác như đạp bàn đạp, chuyển hướng và cố giữ thăng bằng…Đến khi thành thạo thì chúng ta ngồi lên xe là tự nhiên đạp bàn đạp, tay chuyển hướng mà không cần kiểm soát những hành tác theo ý thức nữa. Bởi vì những kinh nghiệm đó đã tiềm ẩn trong tầng vô thức mà con người chỉ cần đánh thức nó là có tác động ngay.

Trẻ em phần lớn sống bằng vô thức, rồi lớn lên thì ý thức đóng góp dần dần vào tiến trình tư duy của các em. Khoa học lý luận rằng vô thức đã có từ khi lọt lòng mẹ hay có thể từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Điều này rất phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật chủ trương rằng tuy con người mới kết tụ vào trong noãn bào của người mẹ thì Thức (ký ức, kinh nghiệm…của những đời quá khứ)(A lại da thức) đã theo sát đứa bé đó rồi. Vì thế khi sinh ra có những người rất giỏi về nhiều bộ môn khác nhau là như vậy. Có người là khoa học gia, luận sư, triết gia…Khi lớn lên chúng ta đi học, thực hành việc làm gì thì từ ý thức đó trở thành vô thức thông qua các hoạt động lập đi lập lại từ lúc nào. Sự tích tụ trong ký ức đó nhà Phật gọi là Uẩn.

Thế thì vô thức có thể chuyển hóa thành ý thức được không?

Khi còn bé vào Mall thì chúng ta thường đòi cha mẹ mua món đồ chơi cho bằng được. Nếu không thì khóc lóc…Như vậy hành động đòi mua quà của đứa bé là vô thức bởi vì nó không thể ý thức được hành vi của nó mà chỉ muốn thỏa mãn bản ngã lúc đó mà thôi. Nhưng khi lớn lên, nó ý thức được được vấn đề, có sự chọn lựa. Bây giờ nó mới biết vì sao nó thích nên có nên mua hay không.

Do vậy, giữa ý thức và vô thức không có một ranh giới rõ ràng nào cả. Chúng luôn chuyển hóa lẫn nhau và cũng vì mối quan hệ đó là động cơ chính giúp con người quân bình đời sống tâm linh, không còn căng thẳng quá.

Nói chung vô thức với tính đa dạng và phức tạp của nó vẫn là chủ đề cực kỳ khó hiểu đối với các nhà khoa họa nghiên cứu tâm lý và thần kinh. Tuy con người luôn tự hào về những khám phá khoa học về vũ trụ, về lượng tử, về vi tính…nhưng đối với cái bộ óc nhỏ và hệ thống thần kinh chằng chịt trong họ thì vẫn còn rất nhiều bí ẩn mà có lẽ con người không thể nào hiểu hết được.

Trong Phật giáo, không có vấn đề vô thức vì tất cả mọi biến hành của tâm cho dù là ở trạng thái tiềm ẩn thì cũng không phải là vô thức. Vô thức là một đề tài rất trừu tượng đã được nhà tâm lý học Sigmund Freud giới thiệu vào năm 1905 và sau đó có những nhà tâm lý học khác như Schopenhauer, Nietzsche..tiếp tục khai triển thêm.

Dựa theo định nghĩa của nhà tâm lý học Sigmund Freud thì “Vô thức là những sự kiện tâm linh cá nhân, chìm khuất trong góc tối của tâm hồn và không bao giờ biểu hiện, không thể dùng ý chí để điều khiển được. Nó là động cơ tiềm ẩn, có khi trở nên mãnh liệt, thôi thúc hành động đến mức không kiểm soát được, không hợp với lý trí. Vô thức được ví như phần chìm của tảng băng tâm linh, góp phần quyết định trong việc hình thành các khuynh hướng của mỗi cá nhân. Trong vùng vô thức liên tục diễn ra cuộc đấu tranh giữa bản năng với bản ngã, giữa phần “con” và “người” và bản năng sẽ bị dồn nén lại trong hàng rào kiểm duyệt (censure) không cho vượt qua lên tầng ý thức được. Nên những xung lực này chỉ biểu hiện phần nào trong các giấc mơ và phần lớn trong các chứng loạn thần kinh (névroses). Vô thức nằm ở đáy sâu tăm tối của tâm linh nên không thể thực nghiệm và không thể khảo sát được bằng các trắc nghiệm.

Để giải thích một cách cụ thể, Freud, nhà tâm lý học quốc tịch Áo khảo sát và sáng lập phân tâm lý học từ năm 1880. Ông đã viết thành sách năm 1905 và  phát họa vô thức dựa theo một họa đồ như sau:

wisdom2

Bây giờ hãy phân tích tảng băng tâm lý của Freud để xem nó có những trùng hợp nào với giáo lý Phật Đà chăng?

1)Mức ý thức: trong đó Freud bao gồm hai phần là suy nghĩ và nhận thức. Đây là phần ý thức của Phật giáo.

2)Mức tiền ý thức: gồm có Trí nhớ và lưu giữ kiến thức. Trí nhớ thì thuộc về Tưởng uẩn và lưu giữ kiến thức thì thuộc về Thức uẩn (A lại da thức).

3)Mức vô thức: gồm có Nỗi lo sợ, Các động cơ bạo lực, Các mong muốn tình dục không được thỏa mãn, Các nhu cầu vị kỷ, các trải nghiệm gây xấu hổ, Các mong muốn phi lý…Tất cả chỉ là những tác ý của Hành uẩn. Ở đây Freud chỉ nêu ra những tác ý bất thiện, những tham vọng bất chánh trong khi đó hành uẩn còn bao gồm những tác ý thiện, chân chánh nữa.

Thế thì dựa theo Phật giáo, không có gì gọi là vô thức cả vì dựa theo định nghĩa của nhà tâm lý học Freud thì vô thức nằm gọn trong Hành uẩn rồi.

Hành uẩn (Mental formations or Thought Process): Hành có nghĩa là tác ý, là ý muốn làm phát xuất từ bộ óc rồi sau đó mới chuyển thành tư tưởng, lời nói hay hành động. Thí dụ trước khi muốn đi, bộ óc phải có tác ý muốn đi rồi sau đó hệ thống thần kinh trung ương chuyển đến khiến đôi chân bước đi. Nói cũng vậy, trước khi nói phải có tác ý muốn nói hay suy nghĩ cũng phải có tác ý suy nghĩ trước khi tâm suy nghĩ về bất cứ đối tượng gì. Nhờ tác ý này mà thân thể của con người mới hoạt động theo ý muốn của mình được. Ngược lại khi về già tuy có tác ý muốn đi, nhưng thân quá yếu hay bệnh tật nên không đi được. Hoặc tác ý muốn nhớ lại kỷ niệm nào đó trong quá khứ, nhưng tưởng uẩn không còn hoạt động nhạy bén nên nhớ đầu quên đuôi, không đâu ra đâu cả. Tuy nhiên không phải có thân là ta có tác ý cho mọi hành tác của mình được. Thí dụ như tim thì luôn đập bất chấp ta muốn hay không. Máu phải lưu thông, hệ thống não bộ thần kinh lúc nào cũng hoạt động chằng chịt, rất phức tạp chẳng khác chi có hàng ngàn bộ máy vi tính hoạt động không ngừng từ trong bộ óc cho đến trên khắp thân thể của chúng ta.

Vì thế khi con người có những tư tưởng xấu ác, lời nói hung dữ hay hành động tàn ác thì trong tâm phải có tác ý bất thiện đó. Ngược lại nếu chúng ta có những tư tưởng tốt, lời nói hài hòa, hành động nhân ái thì đây là những tác ý thiện. Nói chung tập hợp của tất cả “tác ý” thiện hay bất thiện được thể hiện bằng tư tưởng, lời nói hay hành động thì gọi chung là hành uẩn. Ở đây, Đức Phật muốn chỉ rõ tận tường nguồn gốc phát sinh ra tư tưởng, lời nói hay hành động để con người có thể dùng tỉnh thức chánh niệm mà kiểm soát nó. Vì thế trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy rằng: “ Khi tâm tham, ta biết tâm tham. Khi tâm không tham, ta biết tâm không tham. Sân và Si cũng vậy…” Khi thực hành chánh niệm để biết rõ những biến hành (tác ý) của tâm thì con người bây giờ mới có thể làm chủ thân, khẩu, ý của mình được. Muốn luôn sống trong tỉnh thức chánh niệm thì con người phải nỗ lực liên tục, không gián đoạn, chứ không phải siêng năng tùy lúc tùy thời. Sự theo dõi, quán sát tâm của mình cũng ví như cha mẹ theo dõi con cái, lúc nào cũng luôn bảo vệ không cho chúng vấp ngã, làm bậy và dạy cho chúng biết và thực hành điều đúng. Thí dụ niệm Phật là thiền chỉ nghĩa là trong lúc hành giả niệm Phật thì tâm họ cột vào hồng danh chư Phật (tầm và tứ) khiến cho vọng tưởng tạm dừng lại (chỉ), nhưng khi hết niệm thì vọng tưởng phát tác trở lại tức thì khiến cuộc sống trở thành điên đảo. Vì thế nếu luôn sống trong tỉnh thức chánh niệm, hành giả sẽ làm chủ thân, khẩu, ý của mình. Từ đó cuộc sống sẽ nhẹ nhàng, thanh thoát, yên vui, tự tại, và sẽ không còn lo lâu, phiền não.

Vì thế những nhà tâm lý học trên thế giới ngày nay rất hồ nghi về trạng thái vô thức của tâm dựa theo định nghĩa của Freud.

Thêm nữa, khi ngủ không phải là ở trạng thái vô thức bởi vì tuy mắt không mở, tai không nghe…nhưng ý thức vẫn hoạt động nên con người vẫn biết cho nên nếu ai la lớn, hay đánh mạnh thì ý thức tác động khiến chúng ta thức giấc.

Tuy khoa học ngày nay còn mò mẫm về ý thức và vô thức, nhưng Phật giáo đã có nhận định rất rõ ràng sự vận hành của ngũ uẩn mà trong đó tất cả những tác ý đều có thể dùng tỉnh thức chánh niệm để kiểm soát nó. Đức Phật dạy rằng Thức là tâm vương, là đầu dây mối nhợ cho bất cứ tư tưởng, lời nói hay hành động nào của con người. Còn Thọ, Tưởng, Hành là tâm sở, là những trợ duyên để tâm vương thực hành ý định đó. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm giềng mối bổ túc cho nhau. Nếu không có thọ, tưởng thì không thể có thức. Cũng như nếu không có sắc thì không thể nào có thọ hay tưởng được. Có biết những biến hành của tâm hành giả có thể làm chủ thân, khẩu, ý của mình thì cuộc đời sẽ không còn hệ lụy khổ đau.

Lê Sỹ Minh Tùng

 

The unconscious mind (or the unconscious) consists of the processes in the mind that occur automatically and are not available to introspection, and include thought processes, memory, affect, and motivation. Even though these processes exist well under the surface of conscious awareness they are theorized to exert an impact on behavior. The term was coined by the 18th-century German romantic philosopher Friedrich Schelling and later introduced into English by the poet and essayist Samuel Taylor Coleridge. The concept was developed and popularized by the Austrian neurologist and psychoanalyst Sigmund Freud. Empirical evidence suggests that unconscious phenomena include repressed feelings, automatic skills, subliminal perceptions, thoughts, habits, and automatic reactions,[1] and possibly also complexes, hidden phobias and desires. In psychoanalytic theory, unconscious processes are understood to be expressed in dreams in a symbolical form, as well as in slips of the tongue and jokes. Thus the unconscious mind can be seen as the source of dreams and automatic thoughts (those that appear without any apparent cause), the repository of forgotten memories (that may still be accessible to consciousness at some later time), and the locus of implicit knowledge (the things that we have learned so well that we do them without thinking).

It has been argued that consciousness is influenced by other parts of the mind. These include unconsciousness as a personal habit, being unaware, and intuition. Terms related to semi-consciousness include: awakening, implicit memory, subliminal messages, trances, hypnagogia, and hypnosis. While sleep, sleep walking, dreaming, delirium, and comas may signal the presence of unconscious processes, these processes are not the unconscious mind itself, but rather symptoms.

Some critics have doubted the existence of the unconscious.

http://www.egs.edu/library/sigmund-freud/biography/

 

潜意识(或无意识)由自动发生,不可用于自省,包括思维过程,记忆,情感和动机在脑海中的过程。虽然这些过程的自觉意识的表面下存在以及他们的理论来发挥对行为产生影响。该词是由18世纪德国浪漫主义哲学家弗里德里希·谢林,后来引入到英语诗人和散文家塞缪尔·泰勒·柯勒律治。这个概念的开发和奥地利神经学家和精神分析学家西格蒙德·弗洛伊德推广。经验证据表明,无意识的现象包括被压抑的感情,自动技能,阈下知觉,思想,习惯和自动反应,也可能复合物,隐藏的恐惧和欲望。在精神分析理论,无意识的过程理解为表达梦想的象征性形式,以及在舌头和笑话单。因此,潜意识可以被看作是梦想之源,自动思维(那些看起来没有任何明显的原因),遗忘的记忆库(可能仍然可以访问到的意识,在以后的某个时间),和内隐知识的轨迹(我们已经学会这么好,我们做他们不思考的东西)。

有人认为,意识是心灵的其他部分的影响。这些措施包括无意识的个人习惯,没有意识到,和直觉。与半意识方面包括:觉醒,内隐记忆,潜意识信息,恍惚,和催眠。虽然睡眠,梦游,做梦,谵妄和昏迷可能预示无意识过程的存在,这些过程都不是潜意识本身,而是症状。

一些批评人士质疑无意识的存在。

http://www.egs.edu/library/sigmund-freud/biography/

 

 

 

WE ARE ALL ANGELS

WITH

LOVE * FAITH * GOODNESS

BEAUTY * WISDOM * TRUST * HOPE

FREEDOM OF MANKIND

Dear friends, if you agree with me and my wishes mentioned above, please visit this website, click on the button, and leave your name, email address, and place a comment. Thank you for sharing your views and supporting me. I wish you all will have peace and kindness in your heart.

Sincerely,

Angeline Lan Doan, O.M.D.

————————————————————————————

我们都是天使 爱*诚意* 神 美*维*信托* 希望 自由人类

亲爱的朋友们,如果你同意我以上提到的我的愿望,请

访问这个网站,点击按钮,并留下您的姓名,电子邮件地址,

并放置一个注释。感谢您分享您的意见和支持

我。祝大家会有和平,善良的你的心脏。

Angeline Lan Doan, O.M.D.


Leave a comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

4 thoughts on “WISDOM